HA HAYWIN Cổng thông tin giải trí trực tuyến
Thể thao Casino Nổ hũ Bắn cá
Bài viết HAYWIN

Góc Nhìn HAYWIN: Thuật ngữ bóng chuyền

Nội dung chi tiết

0-9 | A | B | C | D | E | F | G | H | I | J | K | L | M | N | O | P | Q | R | S | T | U | V | W | X | Y | Z

0-9

Chuyền số 2 - Đường chuyền cao ngay phía trên đầu chuyền hai. Thường được dành cho phụ công vì họ thường đứng gần vị trí chuyền bóng.

Chuyền số 3 - Đường chuyền dành cho chủ công biên hoặc phụ công. Bóng thường thấp, nhanh và được chuyền ra biên xa hơn so với một đường chuyền giữa thông thường.

Đội hình 4-2 - Kiểu xoay vòng gồm bốn tay đập và hai chuyền hai.

Chuyền số 4 - Đường chuyền dành cho chủ công biên, thấp hơn bình thường. Còn được gọi là đường chuyền lao.

Đội hình 5-1 - Kiểu xoay vòng gồm năm tay đập và một chuyền hai.

Chuyền số 5 - Đường chuyền dành cho tay đập trước bên phải, sử dụng kỹ thuật chuyền sau đầu. Còn được gọi là đường chuyền đỏ.

Đội hình 6-2 - Kiểu xoay vòng gồm sáu tay đập và hai chuyền hai.

Chuyền số 6 - Đường chuyền thông thường ra biên, gần cột ăng-ten và theo hướng mặt của chuyền hai.

A

Hãm bóng - Người đỡ chạm bóng và các cầu thủ khác tiếp nhận bóng bằng một bộ phận cụ thể hoặc toàn bộ cơ thể. Đây thường là động tác giảm lực, trong đó động lượng nảy lại của bóng vẫn đủ để đưa bóng đi tiếp hoặc lên cao mà hầu như không cần lấy đà ra sau hay vung tay theo bóng.

Phát bóng ăn điểm trực tiếp - Quả phát mà đội đối phương không thể đỡ được, thường rơi xuống phần sân hợp lệ mà không chạm bất kỳ ai. Tình huống này lập tức mang về một điểm cho đội phát bóng.

Cột ăng-ten - Các thanh thẳng đứng được lắp phía trên đường biên dọc, gần hai đầu lưới và thường sử dụng trên sân trong nhà.

Chạy đà - Khi một cầu thủ nhanh chóng di chuyển về phía lưới hoặc bóng để thực hiện pha bóng.

Kiến tạo - Khi một cầu thủ chuyền hoặc đỡ bóng cho đồng đội tấn công ghi điểm trực tiếp.

Tấn công - Bất kỳ nỗ lực nào của một đội nhằm ghi điểm trước đối phương.

Lỗi tấn công - Một pha tấn công thất bại theo bất kỳ cách nào sau đây: bóng rơi ngoài sân; bóng đi vào lưới; người tấn công vi phạm đường giữa sân hoặc luật chạm lưới; hay người tấn công tiếp xúc bóng trái luật.

Vạch tấn công - Còn được gọi là vạch 10 foot, thường nằm cách lưới 3 mét và song song với lưới. Vạch này phân chia cầu thủ hàng trước và hàng sau. Một cầu thủ hàng sau không được phép tấn công bóng qua lưới nếu không bật nhảy từ phía sau vạch này.

Phạm vi tấn công - “Cửa sổ” hoạt động mà trong đó tay đập vẫn có thể kiểm soát và tấn công bóng hiệu quả.

Chủ động đánh chắn - Nỗ lực quyết liệt của các cầu thủ phòng ngự nhằm chắn một cú đập trước khi bóng vượt qua lưới.

B

Chuyền nhanh sau đầu - Đường bóng được chuyền tương đối thấp hoặc nhanh cho phụ công hay đối chuyền, ngay phía sau chuyền hai.

Lỗi tấn công hàng sau - Lỗi xảy ra khi một cầu thủ hàng sau bật nhảy, chân chạm vào bất kỳ phần nào của vạch 3 mét hoặc phần kéo dài của vạch rồi tấn công bóng khi bóng cao hơn mép lưới. Lỗi cũng xảy ra khi libero chuyền bóng cao tay ở phía trước vạch 3 mét và một cầu thủ bật nhảy tấn công quả bóng đó.

Chuyền cao sau đầu - Đường bóng được chuyền tương đối cao cho phụ công hoặc đối chuyền, ngay phía sau chuyền hai.

Lỗi chắn bóng của cầu thủ hàng sau - Lỗi xảy ra khi một cầu thủ hàng sau chạm vào quả bóng tấn công của đối phương ở vị trí cao hơn mép lưới.

Cầu thủ hàng sau - Chỉ vị trí của cầu thủ gồm sau trái (LB), sau giữa (MB) và sau phải (RB), căn cứ theo thứ tự phát bóng. Đây là các vị trí số 5, 6 và 1 trong thứ tự phát bóng.

Khu vực hàng sau - Phần sân nằm sau vạch tấn công, trước đường biên cuối sân và giữa hai đường biên dọc.

Đường biên cuối sân - Các đường rộng hai inch và chạy song song với lưới. Chúng xác định hai đầu của sân đấu.

Chuyền sau đầu - Các đường rộng hai inch và chạy song song với lưới. Chúng xác định hai đầu của sân đấu.

Chuyền sau đầu - Một dạng chuyền cao tay thường được dùng để đưa bóng về phía sau.

Hàng sau/Khu vực sau sân - Không gian từ đường biên cuối sân đến vạch tấn công. Có ba cầu thủ đứng trong khu vực này, tương ứng với các vị trí 1, 6 và 5.

Xử lý bóng - Việc thực hiện tất cả các kỹ thuật chuyền bóng cơ bản.

Lỗi xử lý bóng - Khi một cầu thủ tiếp xúc bóng trái luật, thường do chạm bóng hai lần, ném bóng hoặc nâng bóng.

Đường cuối sân - Đường biên phía sau sân, còn được gọi là đường biên cuối sân. Đường này thường cách lưới 30 foot (9 mét) và song song với lưới ở cả hai phần sân.

Đỡ bóng kiểu bãi biển - Cứu hoặc đỡ bóng bằng bàn tay mở. Đây là động tác dùng cả hai bàn tay và các ngón tay để hãm bóng, giữ rồi nâng bóng nhẹ lên. Kỹ thuật này thường được cho phép khi phòng thủ trước một cú đánh mạnh trong bóng chuyền bãi biển.

Chắn bóng - Pha phòng ngự được thực hiện trên lưới nhằm ngăn chặn đợt tấn công của đối phương. Một hoặc nhiều cầu thủ có thể cùng thực hiện.

Hỗ trợ chắn bóng - Thuật ngữ thống kê dùng để ghi nhận công lao của một hoặc nhiều cầu thủ tạo thành hàng chắn đôi hoặc chắn ba, qua đó hỗ trợ đồng đội chắn đợt tấn công của đối phương để ghi điểm trong một pha bóng. Mỗi cầu thủ tham gia chắn tại khu vực tiếp xúc bóng đều được tính một lần hỗ trợ chắn bóng, ngay cả khi chỉ một người thực sự chắn trúng bóng.

Lỗi chắn bóng - Thuật ngữ chỉ một pha chắn không thành công. Khi cầu thủ cố gắng chắn một đợt tấn công, họ sẽ bị tính lỗi chắn bóng nếu vi phạm lỗi chạm lưới, qua đường giữa sân, với tay qua lưới hoặc lỗi chắn bóng của cầu thủ hàng sau.

Đệm bóng - Đường chuyền đầu tiên bằng cẳng tay, được sử dụng để tổ chức tấn công.

Chuyền đệm - Cách chuyền hoặc đưa bóng cho đồng đội bằng cách khép hai cẳng tay lại, duỗi tay ra phía trước và dùng phần dưới cánh tay đệm bóng lên.

C

Đốt lửa trại - Cụm từ mô tả tình huống bóng được đưa trở lại qua lưới rồi rơi vào giữa một hoặc nhiều cầu thủ nhưng không ai lao theo bóng.

Dính bóng - Lỗi xảy ra khi cầu thủ giữ bóng quá lâu. Đôi khi còn được gọi là bắt bóng, nâng bóng hoặc ném bóng. Trọng tài có trách nhiệm xác định cầu thủ có vi phạm quy định xử lý bóng hay không.

Đường giữa sân - Đường chạy hết chiều rộng sân bên dưới lưới. Đường này thường dài 30 foot và phân chia ranh giới phần sân của hai đội.

Lỗi qua đường giữa sân - Khi cầu thủ vượt qua đường giữa sân và đi vào phần sân đối phương.

Thay đổi nhịp độ - Cú đập được thực hiện với lực nhẹ hơn đáng kể so với một cú đập thông thường và thường được đặt bóng rất có chủ đích. Kỹ thuật này được sử dụng để tạo lợi thế chiến thuật.

Đập trúng ngực - Cú đập hoặc quả phát bóng đi thẳng vào ngực đối phương.

Khép hàng chắn - Khi một cầu thủ phối hợp với cầu thủ khác để tạo thành hàng chắn thống nhất. Thuật ngữ này thường mô tả việc khép khoảng trống giữa hai cầu thủ để hình thành một khối chắn liền mạch.

Ngã ngang - Kỹ thuật phòng ngự được thực hiện theo hướng sang hai bên. Cầu thủ dang rộng chân để chùng người sang ngang, chuyền bóng rồi theo quán tính ngã xuống sàn bằng phần bên của đùi hoặc mông.

Chắn theo người - Chiến thuật chắn bóng trong đó cầu thủ chắn tập trung vào một tay đập cụ thể. Kỹ thuật này thường được các phụ công sử dụng.

Sân đấu - Khu vực thi đấu có kích thước 30 x 60 foot, được đường giữa sân chia thành hai nửa, mỗi nửa rộng 30 x 30 foot.

Phạm vi bao sân - Trách nhiệm được phân công cho từng cầu thủ khi tấn công hoặc phòng ngự lúc bóng đang trong cuộc.

Bọc lót - Việc tay đập cùng đồng đội chuẩn bị cứu những quả bóng bật trở lại từ hàng chắn đối phương.

Bọc lót cho tay đập - Khi các cầu thủ của đội tấn công tập trung gần tay đập để cứu những quả bóng bật trở lại từ hàng chắn đối phương.

Đánh chéo đổi vị trí - Bài phối hợp trong đó phụ công bật nhảy đánh bóng số một, còn tay đập biên phải di chuyển vào giữa sân và áp sát cùng vị trí để đánh bóng số hai.

Cú đánh chéo sân - Khi một cầu thủ tấn công theo góc chéo từ một đầu phần lưới bên đội tấn công tới đường biên dọc đối diện trên phần sân của đội phòng ngự. Nói đơn giản, đó là cú đánh đưa bóng theo đường chéo vào sân đối phương. Còn được gọi là cú đánh góc.

Bước qua đường giữa sân - Vị trí đặt chân trái luật so với đường giữa sân. Cầu thủ có thể vượt qua đường giữa sân miễn là một phần cơ thể vẫn tiếp xúc với đường giữa, đồng thời hành động đó không cản trở pha bóng hoặc gây nguy hiểm cho người khác; trọng tài có thể đưa ra cảnh báo.

Giảm lực - Hiệu ứng trong đó động lượng nảy lại của bóng đủ để đưa bóng về phía trước hoặc lên cao mà hầu như không cần lấy đà ra sau hay vung tay theo bóng.

Đánh cắt - Cú tấn công được thực hiện ở một góc rất hẹp.

Cú đánh cắt - Cú đánh khéo léo khởi đầu như một động tác vung tay bình thường nhưng bóng tiếp xúc với phần bàn tay gần ngón út của tay đập, khiến bóng đi chéo qua lưới ở góc rất hẹp. Nói đơn giản, đây là cú đập được thực hiện theo góc hẹp qua lưới.

D

Đánh nghi binh - Bài tấn công chỉ được sử dụng để đánh lạc hướng đối phương mà không có ý định nhận bóng chuyền. Mục đích là làm gián đoạn khả năng tổ chức chắn bóng của đối phương trước tay đập thực sự.

Đánh sâu - Khi cầu thủ đưa bóng ra xa lưới, thường hướng về đường cuối sân của đối phương.

Chuyền sâu lòng - Còn được gọi là đỡ bóng kiểu bãi biển, chỉ động tác tiếp nhận bóng bằng bàn tay mở. Đây là kiểu chuyền trái luật trong một trận đấu khi cầu thủ giữ bóng quá lâu và chuyền bóng từ vị trí thấp hơn vai.

Chuyền xa lưới - Đường chuyền được đưa ra xa lưới nhằm làm rối loạn hàng chắn. Mục đích là hạn chế hiệu quả chắn bóng của đối phương.

Phòng ngự - Những hành động một đội thực hiện khi đối phương hoàn toàn kiểm soát bóng. Đây thường là một chiến thuật tập thể.

Chuyên gia phòng ngự - Cầu thủ chuyên được sử dụng để đỡ phát bóng hoặc phòng ngự. Cầu thủ này chỉ thi đấu ở hàng sau và thường thay thế một cầu thủ có kỹ năng phòng ngự yếu hơn khi người đó xoay xuống hàng sau. Đôi khi họ có thể chuyển lên khu vực trước sân và thi đấu như một cầu thủ hàng trước nếu đội bóng cần.

Cứu bóng - Khi cầu thủ ngăn không cho bóng chạm đất ở phần sân của mình sau một cú đánh mạnh từ đối phương.

Bay người cứu bóng - Cầu thủ lao xuống sàn và dùng cánh tay cứu bóng trước khi bóng chạm đất. Kỹ thuật này còn được gọi là “nhoài người”.

Bay người bắt bóng - Khi cầu thủ phòng ngự lao về phía trước, cứu một cú đánh khó rồi tiếp đất bằng ngực và bụng sau khi dùng cánh tay và bàn tay để giảm lực.

Bay người trượt cứu bóng - Khi cầu thủ phòng ngự lao về phía trước, cứu một cú đánh khó rồi chạm sàn bằng bàn tay và cánh tay, sau đó theo quán tính trượt về phía trước bằng ngực và bụng.

Chắn đôi - Khi hai cầu thủ phòng ngự áp sát lưới và thường cùng bật nhảy để làm chệch hướng hoặc chắn đợt tấn công của tay đập, đưa bóng trở lại phần sân đối phương.

Chạm bóng hai lần - Việc chạm bóng hai lần liên tiếp hoặc để bóng lần lượt chạm vào hai bộ phận trên cơ thể cầu thủ.

Đánh bóng hai lần - Hai hoặc nhiều lần chạm bóng liên tiếp của cùng một cầu thủ.

Đánh nhanh kép - Kỹ thuật tấn công nhằm cô lập tay đập trước bên phải. Hai tay đập thường cùng áp sát chuyền hai ở giữa sân.

Bóng chuyền đôi - Thể thức có hai cầu thủ ở mỗi bên, thường được thi đấu trên sân cát.

Cú đánh dọc biên - Cú đập đi song song và gần một trong hai đường biên dọc nên không bao giờ cắt qua đường giữa sân.

Bóng đánh nhẹ - Khi cầu thủ đánh bóng nhẹ đến mức hàng phòng ngự có nhiều cơ hội cứu bóng thay vì phải chắn. Tiếng hô “Down” thường báo cho các cầu thủ chắn hạ xuống và không bật nhảy.

Trôi ngang - Một lỗi thường gặp của các cầu thủ chắn bóng. Cơ thể di chuyển ngang quá nhiều thay vì bật nhảy thẳng đứng như mong muốn.

Bỏ nhỏ lần hai - Khi một cầu thủ, thường là chuyền hai, đánh bóng qua lưới ngay ở lần chạm thứ hai. Đây thường là một pha bóng bất ngờ: chuyền hai có vẻ chuẩn bị chuyền bóng nhưng lập tức đánh bóng qua lưới vào khoảng trống.

E

Đường biên cuối sân - Đường giới hạn phía sau sân, cách lưới khoảng 30 foot (9 mét) và song song với lưới ở cả hai phần sân. Còn được gọi là đường cuối sân.

Vươn người - Động tác phòng ngự trong đó cầu thủ vươn sang trái hoặc phải.

Vươn người lăn cứu bóng - Động tác bay người có kiểm soát để chuyền một quả bóng tưởng chừng ngoài tầm với. Kết thúc bằng một cú lăn, động tác này giúp cầu thủ nhanh chóng đứng dậy.

F

Chuyền bóng trước mặt - Đường chuyền được thực hiện bằng hai bàn tay mở, thường được kiểm soát bằng các ngón tay và ngón cái ngay phía trên trán. Còn được gọi là chuyền cao tay.

Bóng đập trúng mặt - Khi một cầu thủ phòng ngự bị bóng tấn công của đối phương hoặc bóng bật từ hàng chắn đập vào mặt.

Mắc lưới - Chỉ một cầu thủ bị vướng vào lưới hoặc tiếp xúc với lưới trái luật.

Đội hình 5-1 - Đội hình bóng chuyền gồm một chuyền hai chính và năm cầu thủ tấn công. Các đội trình độ cao thường sử dụng đội hình này.

Chuyền số 5 - Còn được gọi là “đường chuyền đỏ”; cầu thủ hàng sau chuyền bóng tổ chức tấn công cho cầu thủ trước bên phải.

Di chuyển tỏa ra biên - Pha di chuyển được bố trí từ trong ra ngoài nhằm đánh lừa đối phương. Một đồng đội thực hiện bài chạy nghi binh, sau đó tay đập nhanh chóng di chuyển từ trong ra tấn công ở biên.

Bóng lơ lửng - Quả bóng được đánh theo cách tạo ra rất ít hoặc không có độ xoáy. Cú đánh như vậy khiến bóng bất ngờ lạng hoặc lơ lửng trong không trung.

Vị trí trên sân - Bắt đầu từ cầu thủ phát bóng đầu tiên, các vị trí gồm sau phải (RB-1), sau giữa (MB-2), sau trái (LB-3), trước trái (LF-4), trước giữa (MF-5) và trước phải (RF-6). Thứ tự phát bóng phải là (RB-1), (RF-2), (MF-3), (LF-4), (LB-5), (MB-6).

Theo người - Thuật ngữ chỉ việc một cầu thủ chắn bóng theo sát cùng một tay đập ở phía bên kia lưới thay vì chắn theo vị trí.

Lỗi chân khi phát bóng - Lỗi của cầu thủ phát bóng do không giữ cả hai chân phía sau đường cuối sân cho đến khi đánh bóng hoặc không giữ ít nhất một chân trên mặt đất khi đánh bóng.

Chuyền cẳng tay - Kỹ thuật xử lý bóng cơ bản trong đó cầu thủ tiếp xúc bóng ở dưới thắt lưng bằng cẳng tay.

Lỗi - Mọi hành vi vi phạm luật thi đấu bóng chuyền đều được gọi là lỗi.

Chạm bóng bốn lần - Khi một đội chạm bóng bốn lần trước khi đưa bóng sang cho đội kia.

Chuyền số 4 - Đường chuyền dành cho chủ công biên, cách đường biên dọc một foot và cao hơn lưới từ một đến hai foot. Còn được gọi là “đường chuyền lao”.

Hệ thống tấn công 4-2 - Hệ thống tấn công bóng chuyền gồm bốn tay đập và hai chuyền hai. Trong hệ thống này, hai chuyền hai thường đứng đối diện nhau trong vòng xoay và mỗi người sẽ chuyền bóng khi ở hàng trước. Lợi thế của sơ đồ 4-2 là luôn có chuyền hai ở hàng trước.

Đội hình bốn-hai - Đội hình bóng chuyền gồm bốn cầu thủ tấn công và hai chuyền hai. Thường được các đội mới bắt đầu sử dụng.

Bóng tự do - Quả bóng được đưa qua lưới bằng một đường chuyền thay vì tấn công. Cầu thủ phòng ngự được báo hiệu lùi về vị trí đỡ bóng vì sẽ không có cú đập nào.

Khu vực tự do - Khu vực nằm ngoài ranh giới sân đấu. Khu vực tự do rộng khoảng sáu foot và trọng tài cho phép mỗi đội sử dụng khu vực này để giữ bóng trong cuộc.

Bắn nhầm đồng đội - Một tiếng lóng vui trong bóng chuyền, mô tả tình huống quả phát bóng của một cầu thủ đập trúng đầu đồng đội. Đây được coi là lỗi và đối phương được trao một điểm.

Đối diện phía trước - Chỉ vị trí của cầu thủ chắn bóng đối diện tay đập.

Hàng trước - Chỉ vị trí của ba cầu thủ đứng gần lưới.

Trượt lên phía trước - Khi cầu thủ nhanh chóng trượt vào vị trí phía trước chuyền hai.

Khu vực trước sân - Khu vực giữa lưới và vạch tấn công, nơi các cầu thủ hàng trước đứng.

G

Kế hoạch thi đấu - Các chiến lược được xác định trước, thường do ban huấn luyện đề ra, về cách tấn công hoặc ngăn chặn đối phương và cố gắng ghi được nhiều điểm nhất.

Bóng đẹp - Quả bóng được đặt ở vị trí thuận lợi để tay đập tấn công ghi điểm.

H

Cú đánh nửa lực - Cú bỏ nhỏ không được ghi nhận là một cú đập.

Cú đập sấm sét - Cú đập có độ khó rất cao.

Dính bóng - Khi cầu thủ định chuyền bóng nhưng lại bắt bóng rồi cố ném bóng trở lại không trung, tình huống đó được gọi là dính bóng.

Đập bóng - Đánh bóng bằng lòng bàn tay. Còn được gọi là cú đập hoặc pha tấn công.

Đập hỏng - Một cú đập hoặc pha tấn công thất bại.

Hiệu suất tấn công - Tỷ lệ đập bóng được tính bằng tổng số pha ghi điểm trực tiếp trừ tổng số lỗi tấn công, sau đó chia cho số lần tấn công.

Tay đập - Cầu thủ đập hoặc tấn công bóng.

Pha bóng “vợ chồng” - Tiếng lóng chỉ tình huống bóng rơi giữa hai cầu thủ do họ không thể giao tiếp với nhau.

Phát bóng lai - Cú phát nhảy bắt đầu từ động tác tung bóng bằng hai tay giống phát bóng lơ lửng. Động tác trông như một cú phát nhảy lơ lửng, qua đó có thể dụ người đỡ vào tư thế đứng nông và linh hoạt hơn thay vì lùi sâu và ổn định.

I

Phía sau hàng chắn - Thuật ngữ này được mô tả theo hai cách:

  1. Khu vực phòng ngự ở hàng sau, thường nằm phía sau hàng chắn hoặc bị hàng chắn che khuất trực tiếp. Về mặt chiến thuật, đây là khu vực mà cầu thủ phòng ngự không được kỳ vọng sẽ cứu một cú đập mạnh.
  2. Khu vực phòng ngự ở hàng sau nằm giữa những vùng được xác định là PHÍA NGOÀI HÀNG CHẮN và PHÍA TRONG HÀNG CHẮN.

Trong sân - Thuật ngữ này chỉ quả bóng rơi trong sân hoặc chạm đường biên, hay quả bóng bay qua lưới trong phạm vi giữa hai cột ăng-ten.

Đánh nhanh phía trong - Bài phối hợp trong đó phụ công chạy đánh bóng số một ở khoảng giữa vị trí trung tâm và ngoài biên.

Phía trong hàng chắn - Thuật ngữ này được mô tả theo ba cách:

  1. Pha tấn công khiến bóng đi qua khoảng giữa hàng chắn và lưới.
  2. Cú đánh chéo sân vượt khỏi hàng chắn.
  3. Khu vực phòng ngự hàng sau nằm chéo sân so với tay đập và ở giữa vùng bị hàng chắn che khuất với đường biên dọc phía xa.

Liên đoàn Bóng chuyền Quốc tế - Được gọi là FIVB, tổ chức được trao quyền điều hành và quản lý mọi luật lệ cũng như giải đấu bóng chuyền quốc tế, bao gồm cả bóng chuyền bãi biển và bóng chuyền trong nhà. Tổ chức được thành lập năm 1947 và đặt trụ sở tại Lausanne, Thụy Sĩ.

Bài phối hợp cô lập - Chiến thuật thi đấu nhằm cô lập một tay đập cụ thể trước một cầu thủ phòng ngự nhất định. Thường được dùng để khai thác điểm yếu của cầu thủ phòng ngự.

J

Phòng ngự Jedi - Tiếng lóng chỉ một đường chuyền mạnh và khó lường được thực hiện thành công bởi một cầu thủ phòng ngự đứng yên.

Bóng chuyền tự phát - Chỉ một nhóm người không biết nhiều về cách chơi bóng chuyền.

Tranh bóng trên lưới - Khi bóng rơi thẳng xuống đỉnh lưới, hai cầu thủ đối diện cùng bật nhảy và đẩy bóng, cố gắng đưa bóng sang phần sân bên kia.

Phát bóng nhảy - Kiểu phát bóng trong đó cầu thủ tung bóng cao lên không trung, sau đó chạy đà, bật nhảy và đánh bóng từ trên xuống.

Phát bóng nhảy lơ lửng - Cầu thủ phát bóng chạy đà với bước chân tương tự khi tấn công rồi tiếp xúc vào giữa quả bóng để bóng bay với rất ít hoặc không có độ xoáy.

Phát bóng nhảy xoáy lên - Cầu thủ bắt đầu quả phát bằng cách tung bóng cao như thể tự chuyền cho mình, sau đó chạy đà tấn công để thực hiện một cú phát mạnh như đập bóng.

Cầu thủ phát bóng nhảy - Cầu thủ thực hiện một cú phát bóng nhảy.

Chuyền bóng khi bật nhảy - Đường chuyền được cầu thủ thực hiện sau khi bật khỏi mặt sàn.

K

Dấu hiệu - Một tín hiệu mà đội đối phương vô tình để lộ, cho phép hàng phòng ngự dự đoán bài phối hợp hoặc động thái tiếp theo của họ.

Cầu thủ chủ chốt - Cầu thủ giỏi nhất đội, có khả năng dễ dàng quan sát các kiểu phối hợp hoặc thói quen thi đấu của đối phương.

Đá bóng - Đánh bóng bằng bàn chân hoặc di chuyển bàn chân và cẳng chân nhanh, mạnh.

Chắn Kong - Pha chắn bóng bằng một tay. Tên gọi này bắt nguồn từ những động tác nổi tiếng của King Kong.

L

Chuyền ngang - Đường chuyền được thực hiện khi vai của chuyền hai gần như song song với hướng di chuyển của bóng. Thông thường, vai của chuyền hai gần như vuông góc với đường đi của bóng.

Phát bóng chạm lưới - Quả phát chạm lưới rồi tiếp tục đi vào cuộc. Theo các hệ thống luật trước đây, quả phát chạm lưới khiến pha bóng kết thúc và quyền phát bóng được trao cho đội đỡ phát. Ngày nay, bóng phát có thể chạm lưới trên đường bay qua và pha bóng vẫn tiếp tục.

Libero - Từ tiếng Italy có nghĩa là “tự do”, thường chỉ cầu thủ phòng ngự mặc áo đấu có màu tương phản và có thể ra vào sân thay cho bất kỳ cầu thủ hàng sau nào. Nhiệm vụ chính của libero gồm đỡ phát bóng và phòng ngự. Luật không cho phép libero chuyền cao tay ở phía trước vạch 3 mét và tấn công bóng khi bóng cao hơn mặt phẳng mép lưới. Theo một số hệ thống luật, libero có thể phát bóng.

Nâng bóng - Lỗi xảy ra khi bóng dừng lại trên một bộ phận cơ thể.

Đường biên - Các vạch thường rộng 2 inch (5 cm), dùng để xác định ranh giới sân đấu.

Phát bóng dọc biên - Quả phát bóng thẳng rơi xuống đường biên dọc bên trái của đối phương.

Trọng tài biên nam/nữ - Trọng tài đứng ở cuối sân và ra hiệu xác định bóng trong hay ngoài sân.

Bố trí hàng chắn - Sắp xếp các cầu thủ chắn bóng sao cho người chắn hiệu quả nhất đối đầu với tay đập hiệu quả nhất của đối phương.

Quả phát kẹo mút - Quả phát nhẹ thường khiến đội phát bóng bị “liếm”.

M

Trận đấu - Chuỗi các ván đấu quyết định kết quả chung cuộc. Một trận bóng chuyền thường diễn ra theo thể thức thắng hai trong ba ván hoặc ba trong năm ván.

Chắn bóng theo cặp đấu - Hệ thống chắn bóng trong đó các đội điều chỉnh vị trí cầu thủ hàng trước để giành lợi thế trước những tay đập của đối phương. Chẳng hạn, một chủ công biên trái có thể chắn ở giữa, phụ công chắn bên phải và chuyền hai chắn bên trái.

Vị trí giữa - Chỉ cầu thủ trước giữa hoặc sau giữa.

Phòng ngự sau giữa - Phương pháp phòng ngự sử dụng cầu thủ sau giữa để bao quát những cú đập sâu.

Phụ công - Cầu thủ thi đấu ở vị trí giữa hàng trước và chịu trách nhiệm chắn những cú đập gần lưới.

Sau giữa dâng cao - Cầu thủ thi đấu ở vị trí giữa hàng sau và chịu trách nhiệm phòng ngự các cú bỏ nhỏ cùng những cú đánh ngắn.

Phòng ngự sau giữa lùi sâu - Đội hình phòng ngự gồm hai cầu thủ chắn trên lưới và bốn người tạo thành hình chiếc cốc gần chu vi sân. Cầu thủ sau giữa đứng ở đường cuối sân và chịu trách nhiệm phòng ngự mọi cú đánh sâu.

Phòng ngự sau giữa dâng cao - Đội hình phòng ngự gồm hai cầu thủ chắn trên lưới, một cầu thủ sau giữa đứng ngay phía sau hàng chắn và ba cầu thủ còn lại ở gần chu vi sân. Cầu thủ sau giữa chịu trách nhiệm phòng ngự mọi cú bỏ nhỏ.

Mintonette - Tên gọi ban đầu của môn bóng chuyền do William Morgan sáng tạo.

Thung lũng Monument - Khoảng trống giữa hai cầu thủ cao lớn nhưng không phòng ngự.

Hệ thống tấn công đa dạng - Phương pháp tấn công trong đó cả ba cầu thủ hàng trước đều có thể tấn công và một cầu thủ hàng sau đảm nhiệm vai trò chuyền hai. Đây là hệ thống tấn công có ba tay đập, trong đó bóng được chuyền bởi một cầu thủ hàng sau.

N

Lưới - Thiết bị làm từ dây đan thành các mắt lưới vuông cạnh 4 inch, rộng 36 inch và dài 32 foot, có các khoảng trống giữa những sợi dây và chia sân thành hai nửa. Lưới đóng vai trò là rào cản mà bóng phải được đánh qua để đạt mục tiêu của môn bóng chuyền. Phía trên lưới có một dải bạt rộng 2 inch. Chiều cao lưới là 8 foot dành cho nam và 7 foot 4-1/4 inch dành cho nữ.

Lỗi chạm lưới - Khi bất kỳ bộ phận nào trên cơ thể hoặc trang phục của cầu thủ tiếp xúc với lưới trái luật, hành động đó được coi là lỗi chạm lưới.

O

Cú đánh giảm lực - Quả bóng nhanh chóng mất lực do được đánh nhẹ hơn bình thường.

Các cú đánh giảm lực - Pha tấn công chậm có chủ đích của cầu thủ. Trong cú đánh này, cầu thủ tạo độ xoáy nhưng dùng ít lực hơn khi đập bóng.

Tấn công - Các chiến thuật và chiến lược mà đội bóng sử dụng để kiểm soát bóng. Ví dụ gồm đỡ phát bóng bằng kỹ thuật đệm bóng hoặc chuyền cẳng tay, chuyền hai và tấn công bằng cách đập bóng. Phát bóng cũng được coi là một hành động tấn công.

Các bài phối hợp tấn công - Gần như mọi đội bóng đều tập luyện những bài phối hợp hoặc mô hình thi đấu đồng bộ. Một số ví dụ phổ biến được các đội sử dụng trong hệ thống tấn công đa dạng gồm BÀI SỐ BỐN, nhằm cô lập tay đập trước bên trái; ĐÁNH NHANH KÉP, nhằm cô lập tay đập trước bên phải; và BÀI CHỮ X, nhằm cô lập tay đập trước bên phải khi người này tấn công từ vị trí trước giữa.

Hệ thống tấn công - Thuật ngữ này thường được mô tả dựa trên số lượng tay đập và chuyền hai được sử dụng. Số đầu tiên thường biểu thị số tay đập, còn số thứ hai biểu thị số chuyền hai. Ví dụ gồm 4-2, 3-3, 6-6, 5-1, 6-0 và 6-3.

Chắn phía đối diện - Cầu thủ trên lưới đứng ở đầu bên kia so với hướng tấn công của đối phương.

Đối chuyền - Cầu thủ đứng đối diện chuyền hai trong vòng xoay. Trong một số hệ thống, cầu thủ này cũng là chuyền hai. Ở các hệ thống khác, cầu thủ này được gọi là tay đập biên phải.

Tay đập đối chuyền - Cầu thủ đứng đối diện chuyền hai và chịu trách nhiệm tấn công từ phía bên phải sân. Đây được coi là vị trí đa năng nhất trên sân. Vai trò này có thể thay đổi theo vòng xoay: đôi khi trở thành người đỡ bước một chính và đỡ bóng từ giữa sân trong mọi vòng xoay, trở thành tay đập chủ lực hoặc được bố trí để che giấu điểm yếu trên sân.

Tấn công lần chạm thứ hai - Hành động tấn công bóng ở lần chạm thứ hai.

Chủ công biên - Cầu thủ tấn công thi đấu ở vị trí trước trái hoặc trước phải. Phổ biến nhất là thi đấu ở vị trí trước trái.

Chuyền cao tay - Mọi đường chuyền được thực hiện với hai tay ở phía trên đầu và tiếp xúc bóng bằng các ngón tay xòe rộng. Các chuyền hai thường sử dụng kỹ thuật này vì có độ chính xác cao hơn.

Phát bóng cao tay - Mọi quả phát được đánh bằng tay ở vị trí cao hơn vai.

Lỗi sai vị trí - Lỗi xảy ra khi một đội đứng sai thứ tự xoay vòng tại thời điểm quả phát được thực hiện.

Bóng đỡ sang lưới - Quả bóng được chuyền qua lưới. Thuật ngữ này thường mô tả đường đỡ bước một không chính xác khi đỡ phát hoặc phòng ngự, khiến bóng bay thẳng sang phần sân đối phương.

Chuyền hai sang lưới - Tương tự bóng đỡ sang lưới, đây là đường chuyền hai bay qua lưới sang phía đối phương thay vì đến tay đập. Tình huống này thường có thể dẫn đến một pha tranh bóng trên lưới.

P

Quét sơn - Khi cầu thủ cố đánh bóng nhưng chỉ lướt tay qua bóng.

Cứu bóng kiểu bánh kếp - Động tác phòng ngự trong đó cầu thủ lao xuống sàn, duỗi một cánh tay với lòng bàn tay úp phẳng và trượt dọc mặt sân. Bóng được kỳ vọng sẽ bật lên từ mu bàn tay đang áp phẳng của cầu thủ để tiếp tục được giữ trong cuộc.

Bóng tiệc - Khi bóng được chuyền qua lưới và rơi xuống phía trước vạch tấn công, cho phép cầu thủ hàng trước nhanh chóng đánh bóng ngay ở lần chạm đầu tiên.

Chuyền bóng - Pha kiểm soát bóng ở lần chạm đầu tiên sau quả phát hoặc khi phòng ngự, với mục tiêu đưa bóng đến một đồng đội để chuyền hai hoặc tấn công.

Xâm nhập - Thuật ngữ này có thể chỉ việc cầu thủ hàng sau di chuyển lên khu vực trước sân để chuyền hai khi đội đang cố triển khai hệ thống tấn công đa dạng, hoặc chỉ động tác cầu thủ vươn tay qua lưới khi chắn bóng.

Bài tập Pepper - Bài tập trong đó hai cầu thủ luân phiên đỡ bóng, chuyền hai và vô-lê bóng.

Tấn công Pipe - Khi một cầu thủ hàng sau tấn công từ giữa sân.

Bài phối hợp - Một đợt tấn công được sắp xếp từ trước. Đây cũng có thể là pha tấn công giả có chủ đích nhằm đánh lạc hướng đối phương.

Đánh lại pha bóng - Hành động đưa bóng trở lại cuộc mà không trao điểm hoặc quyền phát bóng cho đội nào.

Điểm - Một điểm chỉ được trao cho đội phát bóng khi đội đối phương phạm lỗi. Đội đối phương không thể giành điểm.

Điểm từ phát bóng - Quả phát mang về một điểm, được tính là phát bóng ăn điểm trực tiếp theo tiêu chuẩn NCAA, vì đối phương không thể trả bóng do người đỡ chuyền bước một hỏng.

Chuỗi điểm - Một điểm bổ sung được ghi trong khi vẫn giữ nguyên cầu thủ phát bóng ở đường cuối sân.

Hành lang sức mạnh - Cú đánh chéo sân đi tới góc xa nhất trên phần sân đối phương.

Bóng chuyền sức mạnh - Cấp độ bóng chuyền này khác với bóng chuyền giải trí ở yêu cầu tổ chức cần thiết để vận dụng các chiến thuật tập thể và kỹ năng cá nhân ở mức độ cực kỳ tinh nhuệ. Bóng chuyền sức mạnh đòi hỏi vận động viên nhanh nhẹn, tỉnh táo, phối hợp rất tốt và giàu năng lượng để làm chủ các kỹ năng khó cùng những tình huống thi đấu phức tạp.

Đẩy bóng mạnh - Khi cầu thủ tấn công kiểm soát hoặc đẩy bóng thật mạnh.

Hoàng tử - Cầu thủ thi đấu tùy hứng, nổi tiếng vì đánh bóng rất mạnh thay vì sử dụng chiến thuật. Còn được gọi là “cá voi” hoặc “Công chúa Cá voi”.

Đuổi cứu bóng ngoài cột ăng-ten - Xử lý một quả bóng đã bay ra ngoài cột ăng-ten sang phía bên kia lưới rồi đưa bóng trở lại đúng phần sân.

Q

Đánh nhanh - Đường chuyền thấp, nhanh và ở phía trong.

Chuyền nhanh - Đường chuyền thẳng đứng rất thấp, được sử dụng để đánh bại hàng chắn đối phương. Bóng có thể được chuyền tại bất kỳ vị trí nào dọc theo lưới.

R

Cầu vồng - Cú đánh chủ yếu được sử dụng trong bóng chuyền bãi biển, đưa bóng qua đầu cầu thủ phòng ngự tới góc xa và rơi gọn xuống sân. Còn được gọi là Jumbo Shrimp vì quỹ đạo hình vòng cung của cú đánh.

Tính điểm trực tiếp - Theo thể thức tính điểm trực tiếp, mỗi pha bóng chết đều mang lại điểm bất kể đội giành điểm đang phát hay đỡ phát. Năm 1999, FIVB (Liên đoàn Bóng chuyền Quốc tế) đã đưa quy định này vào môn bóng chuyền.

Phạm vi di chuyển - Khu vực thi đấu mà trong đó cầu thủ có khả năng thực hiện thành công pha bóng cao nhất.

Chắn bóng theo phán đoán - Chiến thuật chắn bóng yêu cầu tất cả cầu thủ hàng trước “đọc” người chuyền bóng để xác định đợt tấn công sẽ bắt đầu từ đâu.

Tư thế sẵn sàng - Tư thế khuỵu người nhưng vẫn thoải mái mà cầu thủ thực hiện trước khi di chuyển để tiếp xúc bóng. Ở tư thế này, cầu thủ khuỵu gối, hai tay đưa ra ngang thắt lưng và hơi chếch ra ngoài đầu gối, trọng lượng cơ thể được giữ cân bằng về phía trước.

Lỗi đỡ giao bóng - Xảy ra khi cầu thủ không thể đỡ và chuyền bóng chính xác từ quả giao bóng, khiến đội giao bóng giành điểm.

Thẻ đỏ - Thẻ được trọng tài rút ra đối với cầu thủ hoặc huấn luyện viên có hành vi sai trái nghiêm trọng, dẫn đến việc đối phương được tính điểm hoặc giành quyền giao bóng. Người vi phạm tự động bị truất quyền thi đấu, đồng thời đội đối phương được tính điểm hoặc giành quyền giao bóng.

Phòng thủ đỏ - Sơ đồ phòng thủ gồm hai cầu thủ chắn bóng trên lưới, một cầu thủ hàng sau giữa đứng ngay phía sau hàng chắn và ba cầu thủ còn lại bố trí gần chu vi sân. Cầu thủ hàng sau giữa chịu trách nhiệm xử lý mọi cú bỏ nhỏ.

Cây gỗ đỏ - Chỉ một cầu thủ chắn bóng cao lớn nhưng phối hợp động tác hơi vụng về.

Trọng tài - Người điều hành trận đấu từ vị trí trung lập và nhanh chóng đưa ra các quyết định nhằm thực thi luật thi đấu. Một trận bóng chuyền do trọng tài thứ nhất điều hành từ bục trọng tài, nơi có tầm nhìn rõ qua lưới và xuống mặt sân. Trọng tài thứ hai đứng dưới mặt sân và hỗ trợ trọng tài thứ nhất.

Lăn cứu bóng - Động tác phòng thủ thường được sử dụng để mở rộng phạm vi di chuyển sang ngang. - LĂN TOÀN PHẦN là động tác cầu thủ phòng ngự lao người sang ngang, cứu một đường bóng khó rồi lăn 360 độ qua lưng và vai để trở lại tư thế phòng thủ. - NỬA VÒNG LĂN là động tác cầu thủ ngã ngửa, đổi hướng rồi đứng dậy bằng hai chân.

Chắn sập - Chắn một cú đập bóng, thường khiến bóng rơi thẳng xuống sân để ghi điểm.

Xoay vòng - Sự di chuyển theo chiều kim đồng hồ của các cầu thủ trên sân sau khi đội đối phương mất quyền giao bóng.

Vung tay vòng cung - Động tác được sử dụng khi đánh bóng trong lúc giao bóng hoặc đập bóng. Bóng được đánh bằng cánh tay thường vung lên theo một vòng cung lớn khoảng 180 độ.

S

Cứu bóng - Tình huống cầu thủ cứu được một quả bóng lẽ ra có thể chạm sàn bằng cách di chuyển vượt xa phạm vi phòng thủ thông thường của mình.

Tỷ số - Số điểm giành được trong một trận đấu. Một set tiếp tục cho đến khi một đội đạt 25 điểm và dẫn trước tối thiểu hai điểm để giành chiến thắng. Phần lớn các trận đấu gồm năm set; vì vậy, một đội phải thắng ba trong năm set để thắng trận.

Thư ký ghi điểm - Trọng tài chịu trách nhiệm ghi lại chính xác tỷ số trận đấu.

Che khuất - Lỗi xảy ra khi các cầu thủ ở vị trí 2, 3 và 4 dùng cơ thể hoặc bàn tay trong lúc bắt đầu pha bóng bằng quả giao bóng để cản trở, khiến các cầu thủ đỡ giao bóng của đối phương không thể quan sát rõ người giao bóng.

Khe chắn - Khoảng trống giữa hai cầu thủ. Thuật ngữ này thường chỉ khoảng trống giữa các cầu thủ chắn bóng.

Giao bóng - Cách cơ bản để đưa bóng vào cuộc. Mục tiêu của quả giao bóng là đưa bóng qua lưới và vào phần sân đối phương.

Người giao bóng - Cầu thủ thực hiện động tác đưa bóng vào cuộc.

Giao bóng ăn điểm trực tiếp - Quả giao bóng chạm sàn hoặc được cầu thủ đỡ bóng chạm vào nhưng khiến đội đó không thể thực hiện lần chạm bóng thứ hai.

Khu vực giao bóng - Khu vực có chiều rộng bằng đường biên ngang và kéo dài sâu ra phía sau đường biên cuối sân. Khu vực này phải sâu tối thiểu sáu feet. Nếu khu vực thi đấu không có đủ khoảng trống để đáp ứng độ sâu đó, khu vực giao bóng phải được mở rộng vào trong sân một khoảng cần thiết để đạt mức tối thiểu sáu feet.

Lỗi giao bóng - Quả giao bóng không thành công do bóng chạm lưới hoặc không qua lưới, rơi ngoài sân hay người giao bóng phạm lỗi chân.

Giao bóng ghi điểm - Đội giao bóng ghi điểm ngay sau khi thực hiện quả giao bóng.

Chuyên gia giao bóng - Cầu thủ dự bị có kỹ năng giao bóng xuất sắc. Khi đội đỡ giao bóng giành lại quyền giao bóng, chuyên gia giao bóng sẽ nhanh chóng được thay ra khỏi trận đấu.

Tấn công bằng chuyền hai - Tình huống chuyền hai cố gắng tự ghi điểm thay vì chuyền bóng cho một cầu thủ khác. Còn được gọi là đường chuyền lao.

Thiết lập hàng chắn - Trong hầu hết các hệ thống phòng thủ, một cầu thủ cụ thể được giao nhiệm vụ bố trí hàng chắn trước một cầu thủ tấn công nhất định. Cầu thủ được phân công đảm nhiệm vị trí chắn có nhiệm vụ THIẾT LẬP HÀNG CHẮN.

Các biến thể chuyền hai - Một số biến thể chuyền hai gồm:

  1. Đường chuyền thấp, thường ở giữa lưới (khu vực số 5), đi gần như thẳng đứng và được cầu thủ đang ở trên không đập thật nhanh. Bóng được đánh ngay phía trên lưới khi vừa rời tay chuyền hai. Tốt nhất, bóng được chuyền sao cho tay đập tấn công khi đang bật lên.
  2. Đường chuyền thấp vừa phải, đi gần như thẳng đứng từ tay chuyền hai lên độ cao khoảng 2–3 feet trên lưới.
  3. Đường chuyền tầm trung, cao 2–4 feet trên lưới và rơi xuống khu vực giữa chuyền hai với tay đập; đôi khi được dùng thay thế cho đường chuyền 31.
  4. ĐƯỜNG CHUYỀN THÔNG THƯỜNG thường rơi gần đường biên dọc, tại vị trí dải băng đánh dấu thẳng đứng.
  5. ĐƯỜNG CHUYỀN, còn được gọi là đường chuyền lao – Đường chuyền thấp vừa phải, cao 2–4 feet trên lưới và rơi gần đường biên dọc. ĐƯỜNG CHUYỀN 31 – Đường chuyền thấp, nhanh, thường ở khu vực số 3 và ngay phía trên lưới.

Chuyền hai - Còn được gọi là người tung bóng, chỉ cầu thủ chịu trách nhiệm thực hiện lần chạm bóng thứ hai và đưa bóng đến vị trí thuận lợi để tấn công.

Các khu vực chuyền hai - Dùng để tổ chức các bài phối hợp của đội, chẳng hạn như Phương án Bốn nhằm cô lập tay đập trước trái; Hai Quả Nhanh nhằm cô lập tay đập trước phải; và Bài X nhằm cô lập tay đập trước phải đang di chuyển tấn công từ vị trí trước giữa.

Dịch chuyển hàng chắn - Sự điều chỉnh của các cầu thủ chắn bóng trước khi bắt đầu một pha bóng. Các cầu thủ chắn bóng bước một hoặc hai bước về một trong hai đường biên dọc để tạo vị trí có lợi thế nhỏ trước cầu thủ tấn công mà họ dự đoán sẽ được chuyền bóng.

Sát lưới - Thuật ngữ thường dùng để mô tả một đường chuyền bước một hoặc chuyền hai đưa bóng đến rất gần lưới.

Chuyền hỏng - Một đường chuyền không hoàn chỉnh hoặc bị lệch hướng nghiêm trọng.

Giao bóng ngắn - Kỹ thuật giao bóng vào khu vực 2, 3 hoặc 4, tương ứng với trước phải, trước giữa và trước trái, tốt nhất là trong phạm vi vạch 3 mét. Kỹ thuật này nhằm phá vỡ hệ thống tấn công của đối phương bằng cách kéo các tay đập ra khỏi vị trí chạy đà lý tưởng.

Chuyền lao - Đường chuyền nhanh, được chủ động thực hiện ở tầm thấp cho một tay đập đứng cách xa chuyền hai.

Đổi quyền giao bóng - Sự chuyển giao quyền giao bóng khi đội đang giao bóng không ghi được điểm hoặc mắc lỗi không bị ép buộc.

Thể thức chỉ đội giao bóng được ghi điểm - Thể thức tính điểm trong đó chỉ đội đang giao bóng mới có thể giành điểm.

Đường biên dọc - Hai đường dài khoảng 60 feet, rộng hai inch, song song với nhau và vuông góc với lưới.

Cú đập trúng mặt - Quả bóng được đập trúng mặt hoặc đầu của cầu thủ chắn bóng.

Đội hình 6-2 - Hệ thống tấn công gồm sáu cầu thủ và hai chuyền hai đứng đối diện nhau trong vòng xoay vị trí.

Đập xé nách - Cú đập bóng lao vút qua dưới hai cánh tay đang giơ cao của cầu thủ đối phương.

Giao bóng bổng - Quả giao bóng thấp tay đưa bóng bay rất cao qua lưới rồi rơi gần như thẳng xuống.

Đánh lao / bước một chân - Pha tấn công nhanh được thực hiện phía sau chuyền hai.

Đập nhẹ - Cú đập được thực hiện với lực yếu hơn đáng kể so với cú đập thông thường và thường được đặt bóng rất chính xác. Kỹ thuật này được sử dụng để giành lợi thế chiến thuật.

Đập bóng - Thuật ngữ chỉ cách đưa bóng mạnh qua lưới, thường là lần chạm bóng thứ ba của một đội trên phần sân mình, hoặc hành động bật nhảy và đánh quả bóng đã được chuyền khi bóng ở cao hơn mép lưới.

Bọc lót tay đập - Vị trí mà các cầu thủ tấn công thiết lập để đón bất kỳ quả bóng nào bật trở lại từ hàng chắn trong lúc tay đập thực hiện cú đập.

Tay đập - Cầu thủ tấn công đánh mạnh bóng qua lưới vào phần sân đối phương.

Chắn tách - Kỹ thuật đồng đội trong đó các cầu thủ chắn bóng chủ động để lại một khoảng trống rộng giữa họ. Khoảng trống này có thể rộng khoảng 1–4 feet.

Nhoài người cứu bóng - Kỹ thuật phòng thủ trong đó cẳng tay của cầu thủ tiếp xúc với mặt sân khi người đó di chuyển về phía trước hoặc sang ngang để ngăn bóng chạm sàn. Nếu thực hiện đúng, cầu thủ sẽ kết thúc động tác trong tư thế nằm sấp duỗi người trên sân.

Phía mạnh - Thuật ngữ chỉ các khu vực đập bóng hoặc tấn công dọc theo lưới. Phía bên trái lưới là phía mạnh đối với tay đập thuận tay phải, còn phía bên phải lưới là phía mạnh đối với tay đập thuận tay trái.

Chắn chết - Quả bóng bị hàng chắn đối phương đổi hướng trở lại và rơi xuống phần sân của đội tấn công. Nói đơn giản, đây là pha chắn bóng ghi điểm.

Cầu thủ thay người - Việc thay một cầu thủ trên sân bằng một cầu thủ khác.

Chắn lấy đà - Kỹ thuật chắn bóng nhằm đạt độ cao bật nhảy lớn hơn và nâng tầm chắn bằng cách sử dụng chuỗi động tác chạy đà.

Tấn công biến hóa - Bill Neville và Doug Beal giới thiệu hệ thống tấn công biến hóa tại Thế vận hội năm 1984. Hệ thống này sử dụng một hoặc hai tay đập cơ động có khả năng đánh nhiều loại đường chuyền tại nhiều khu vực trên lưới nhằm đánh lừa hàng chắn bằng cách hiếm khi tấn công cùng một kiểu chuyền hai lần. Họ có thể đỡ bóng ở phía trái lưới rồi tấn công ở phía phải.

Đổi vị trí - Sự hoán đổi vị trí trên sân được lên kế hoạch có chủ đích. Việc này chỉ có thể diễn ra sau khi người giao bóng đã chạm bóng. Thông thường, các cầu thủ ở cùng một tuyến trên sân sẽ đổi vị trí với nhau; chẳng hạn, cầu thủ hàng sau chỉ đổi chỗ với cầu thủ hàng sau, còn cầu thủ hàng trước chỉ đổi chỗ với cầu thủ hàng trước.

T

Tấn công nối tiếp - Bài phối hợp trong đó một cầu thủ tấn công ngay phía sau một cầu thủ khác.

Băng mép lưới - Phần trên cùng của lưới.

Sơ đồ đội hình - Cách bố trí phối hợp của một đội khi tấn công hoặc phòng thủ.

Đội bóng - Nhóm sáu cầu thủ thi đấu trên một nửa sân.

Tay đập kỹ thuật - Tay đập đồng thời đảm nhiệm vai trò chuyền hai phụ.

Để lộ ý đồ - Khiến bài phối hợp đã lên kế hoạch trở nên rõ ràng với đội đối phương, cho phép họ chuẩn bị từ trước.

Tấn công ba tay đập - Hệ thống tấn công trong đó cả ba cầu thủ hàng trước đều có nhiệm vụ tấn công, còn một cầu thủ hàng sau đảm nhiệm vai trò chuyền hai.

Vạch 3 mét - Đường kẻ ngang sân đánh dấu vị trí mà cầu thủ hàng sau phải giậm nhảy từ phía sau đường này nếu muốn tấn công bóng. Còn được gọi là “vạch tấn công” hoặc vạch 10 feet.

Bỏ nhỏ - Cú đánh nhẹ bằng một tay vào phần sân đối phương bằng các đầu ngón tay. Còn được gọi là cú dink.

Đánh bóng bật tay chắn - Tình huống cầu thủ chủ động tấn công bóng vào bàn tay hoặc cẳng tay của cầu thủ chắn bóng để đưa bóng ra ngoài sân và ghi điểm.

Xoáy tới - Độ xoáy về phía trước được tạo cho bóng khi giao bóng hoặc đập bóng.

Tung bóng - Thuật ngữ quốc tế dùng để chỉ động tác chuyền hai; tương tự, người tung bóng có nghĩa là chuyền hai.

Chạm bóng - Tình huống cầu thủ tiếp xúc bóng trong một pha phòng thủ.

Quỹ đạo - Quỹ đạo của một vật thể, chẳng hạn như quả bóng, phải đi theo một đường parabol trừ khi vật thể chịu tác động của ngoại lực. Có hai loại yếu tố thường làm bóng chuyền lệch khỏi cung parabol: 1 – Bất kỳ độ xoáy nào được tạo cho bóng đều khiến bóng lệch theo một hướng có thể dự đoán. 2 – Khi không có độ xoáy, bóng có thể lệch khỏi đường bay lý thuyết một cách ngẫu nhiên.

Chuyển trạng thái - Sự di chuyển của đội khi chuyển từ sơ đồ này sang sơ đồ khác. Chẳng hạn, đội chuyển từ tấn công sang phòng thủ hoặc từ phòng thủ sang tấn công.

Chuyền bóng kẹt lưới - Đường chuyền thấp, căng và sát lưới.

Chắn ba người - Sử dụng đồng thời cả ba cầu thủ chắn bóng để ngăn một cầu thủ tấn công. Kỹ thuật này thường xuất hiện trong những tình huống chuyền bóng ngoài hệ thống, khi ý đồ của chuyền hai đã lộ rõ từ trước. Nó cũng được sử dụng để ngăn chặn một tay đập vượt trội.

Tuna - Thuật ngữ dùng để chỉ lỗi chạm lưới.

Xoay bàn tay vào sân - Động tác của cầu thủ chắn biên xoay một bàn tay hướng vào trong sân nhằm ngăn tay đập đánh bóng bật hàng chắn ra ngoài biên.

Tấn công hai tay đập - Thuật ngữ thường được sử dụng khi vận hành hệ thống tấn công 4-2 hoặc 6-6.

U

Trọng tài phụ - Trọng tài hỗ trợ trọng tài chính bằng cách đứng ở phía đối diện dưới mặt sân.

Chuyền thấp tay - Động tác chuyền bóng bằng cẳng tay, hai bàn tay khép lại và hai cánh tay khóa thẳng ở khuỷu để đưa bóng đến chuyền hai hoặc cầu thủ tấn công. Còn được gọi là chuyền cẳng tay.

Giao bóng thấp tay - Kiểu giao bóng trong đó người giao bóng tung bóng lên khoảng ngang thắt lưng rồi dùng tay còn lại đánh bóng bằng động tác thấp tay.

USAV - Viết tắt của United States Volleyball Association, cơ quan quản lý môn bóng chuyền tại Hoa Kỳ.

USVBA - Viết tắt của United States Volleyball Association, tổ chức gồm 20 đơn vị tài trợ cho các hoạt động bóng chuyền lớn. Tổ chức được thành lập năm 1928 và đặt trụ sở tại San Francisco, California.

V

Dải băng đánh dấu thẳng đứng - Dải vật liệu rộng 2 inch bằng băng vải canvas, được gắn thẳng đứng ở mỗi bên lưới, ngay phía trên đường biên dọc, nhằm đánh dấu ranh giới hai bên của sân.

Pha bóng - Chuỗi hành động diễn ra khi bóng đang trong cuộc. Pha bóng bắt đầu bằng quả giao bóng và kết thúc khi bóng chết.

W

Đội hình đỡ giao bóng chữ W - Đội hình thi đấu gồm ba cầu thủ ở hàng trước và hai cầu thủ ở hàng sau.

Waffle - Tình huống cầu thủ tấn công một quả bóng không xoáy nhưng bóng lại bay rất xa ra ngoài sân.

Phía yếu - Chỉ phía bên phải sân, nơi phần lớn cầu thủ thuận tay phải không thể tấn công thuận lợi.

Whale - Tình huống cầu thủ đánh bóng cẩu thả mà không quan tâm đến chiến thuật. Còn được gọi là “công chúa” hoặc “hoàng tử”.

Phòng thủ trắng - Còn được gọi là PHÒNG THỦ HÀNG SAU GIỮA LÙI SÂU, đây là sơ đồ phòng thủ gồm hai cầu thủ chắn bóng trên lưới và bốn cầu thủ xếp thành hình chiếc cốc gần chu vi sân. Cầu thủ hàng sau giữa đứng sát đường biên cuối sân và chịu trách nhiệm xử lý mọi đường bóng sâu.

Đánh bóng bật chắn ra ngoài - Đánh bóng sao cho bóng chạm hàng chắn rồi bật ra ngoài biên.

Cú đập bật tay chắn - Cú đập được chủ động đánh bật khỏi tay cầu thủ chắn bóng. Thường là một cú đập nhẹ.

Y

Thẻ vàng - Khi cầu thủ hoặc huấn luyện viên của một đội vi phạm luật, trọng tài sẽ rút thẻ vàng để cảnh cáo hành vi sai trái. Hai thẻ vàng sẽ tự động dẫn đến một thẻ đỏ.

Z

Các khu vực trên lưới - Lưới bóng chuyền được chia thành một hệ thống đối xứng gồm chín khu vực. Ví dụ, trong ký hiệu A 23, chữ số đầu tiên là 2 biểu thị khu vực bắt đầu của đường chuyền, còn chữ số thứ hai là 3 biểu thị độ cao của đường chuyền.

Khu vực phát huy hiệu quả - Khu vực thi đấu mà tại đó cầu thủ có khả năng thực hiện thành công một pha bóng cao hơn.

Cập nhật lúc 2026-07-16 08:26

Lưu bài Đề xuất In bài